(Baothanhhoa.vn) - Bạn đọc đã biết đến nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm với nhiều bài thơ viết về Thanh Hóa bằng những cung bậc cảm xúc, trạng thái khác nhau trên các tác phẩm thơ đã ra mắt bạn đọc. Trường ca “Hát nơi cửa sóng” của Nguyễn Minh Khiêm do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2018, một lần nữa đem đến cho công chúng bạn đọc một văn bản thơ gần một trăm trang với bốn chương viết. Trong một trăm trang đó, nhà thơ dựa vào những nhân vật lịch sử, nhân thần, thiên thần, các dấu mốc lịch sử, chuyện kể dân gian, ca dao, hò, vè, địa danh, dấu tích... của đất Thanh Hóa để kiến tạo nên trường ca, trên cơ sở lấy thể thơ tự do làm phương tiện chuyển tải ý tưởng sáng tạo tác phẩm, nhằm ngợi ca mảnh đất quê nhà.

Tin liên quan

Đọc nhiều

Xứ Thanh trong trường ca Hát nơi cửa sóng của Nguyễn Minh Khiêm

Bạn đọc đã biết đến nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm với nhiều bài thơ viết về Thanh Hóa bằng những cung bậc cảm xúc, trạng thái khác nhau trên các tác phẩm thơ đã ra mắt bạn đọc. Trường ca “Hát nơi cửa sóng” của Nguyễn Minh Khiêm do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2018, một lần nữa đem đến cho công chúng bạn đọc một văn bản thơ gần một trăm trang với bốn chương viết. Trong một trăm trang đó, nhà thơ dựa vào những nhân vật lịch sử, nhân thần, thiên thần, các dấu mốc lịch sử, chuyện kể dân gian, ca dao, hò, vè, địa danh, dấu tích... của đất Thanh Hóa để kiến tạo nên trường ca, trên cơ sở lấy thể thơ tự do làm phương tiện chuyển tải ý tưởng sáng tạo tác phẩm, nhằm ngợi ca mảnh đất quê nhà.

Xứ Thanh trong trường ca Hát nơi cửa sóng của Nguyễn Minh Khiêm

Bằng phương pháp tu từ và nghệ thuật nhân hóa, phong cách kể chuyện bằng thơ, nhà thơ đưa hình ảnh con sông Mã không còn là con sông thuần túy chỉ có âm thanh sóng giản đơn như nó vốn có, mà con sông Mã đã được nhà thơ yêu dấu tặng cho nó vẻ đẹp với thanh âm hay như một sợi dây đàn vốn có từ thời tiền sử. Chưa dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục ví con sông Mã như một chiếc khăn, chiếc khăn đó biết thương xót, ấp yêu bao kiếp cần lao hai bên bồi, lở, suốt chiều dài lịch sử quê hương mà thiên nhiên ưu ái, ban tặng con sông đó cho đất và người xứ Thanh:

“ Sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta/ sợi dây đàn căng từ thời tiền sử/ những người khổng lồ tóc còn để chỏm/ kể cho ta nghe những khúc ca về máu/ máu đã sinh ra đất thế nào?/ máu đã sinh ra tên làng, tên nước/.../ sông Mã vẫn chảy bên chái nhà ta/ Chiếc khăn cũ mèm lau mồ hôi hết thế hệ này, sang thế hệ khác/ lau những ánh mắt mệt mỏi vật lộn trong cuộc mưu sinh/...”.

Nhờ con sông mà nghĩa tình giữa con người với con người, giữa các thế hệ nối tiếp được gắn bó, thắt chặt bởi những giá trị văn hóa mà tự thân con sông tạo cho người đôi bờ thụ hưởng theo tháng năm, để từ nguồn trong thao thiết đó, người xứ Thanh đã nỗ lực vượt qua dâu bể đời người: “Nghiêng trời một tiếng dô huầy/ khoang đầy nắng xối, mạn đầy mưa tuôn/ ngón chân bấm toác ngọn nguồn/ sào cong vít giữa sóng cồn khơi xa/ vọng lên dô tả, dô tà/ muôn đời gia phả ông bà truyền nhau/.../ Thấp cao nhịp thác, nhịp ghềnh/ mà thành nghĩa nặng, mà thành ơn sâu/ dô huầy một khúc ca nâu/ núm nhau khúc ruột muôn sau tìm về”.

Vẫn theo cái cách mà các nhà thơ xứ Thanh đã từng dụng công là lấy con sông, bến đò, cây cầu... như sông Mã (Mã Giang Lân), lấy con sông Cầu Chày (Lê Đình Cánh), lấy Đò Lèn (Lâm Bằng), lấy cầu Bố (Nguyễn Duy)... làm mạch nguồn cho dòng chảy thơ xuyên suốt các tác phẩm, thì trong trường ca này, ở chương hai, chương ba, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm cũng lấy sông Mã làm mạch nguồn cảm xúc chính để dẫn dắt câu chuyện thơ của mình về mảnh đất địa linh, nhân kiệt, không chỉ yêu dấu, tự hào mà cũng lắm khổ đau, mất mát trong các cuộc chiến đấu giữ gìn hòa bình và độc lập dân tộc, cũng như xây dựng quê hương: “Người xứ Thanh về hát nơi cửa sóng.../ vượt sông thì vượt Hang Ma/ vượt biển thì phải vượt qua Thần Phù/ đất thì sông Mã, sông Chu/ Hết Pù Noọc Coọc lại Pù Eo Cưa/ núi thì đâu cũng núi Nưa/ làng thì sinh chúa, sinh vua khắp vùng/ sức ai cũng sức ông Bùng/ chí ai cũng chí anh hùng cưỡi voi/ kinh đô Việt mấy lần rồi/ mở trang sử cứ tưởng chơi hú hà...”.

Hình ảnh người nông dân ở tất cả các loại hình lao động, được nhà thơ chú trọng khắc họa rõ nét trên những vạt đất thấm đẫm mồ hôi và cả máu. Ở đó đậm đặc hình ảnh con người xứ Thanh với sự nỗ lực vươn lên thoát khỏi đói nghèo, thoát khỏi nô lệ, lầm than, thoát khỏi bùn lầy số phận, không quản hy sinh, khó khăn cực khổ, đạn bom dập vùi... Ở đâu cũng hiện lên các vị thần phù hộ cho nhân dân, các hình ảnh tao nhân, mặc khách và người nông dân Thanh Hóa tuy dung dị, nhưng ẩn sâu trong từng hình tượng, từng con người là tình yêu quê hương, ý chí bảo vệ Tổ quốc với khát vọng dựng xây đất nước trường tồn: “Nghiêng dòng sông Chu/ lật dòng sông Mã/ nơi này bãi ngang/ chỗ kia cồn dọc/ ông Nưa, ông Vồm, ông Gò, ông Đống/ Ông Bưng, ông Lau, ông Mê, ông Nẹ/ ông làm lũ/ ông trụ trời/ ông lấp bể/ ông kể sao/ ông đào sông/ ông mở đồng/ ông trồng núi.../.../ Bến Đá/ Ba Bông/ Cửa Hới, Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Bạng.../”.

Trong toàn bộ trường ca, nhà thơ đặc biệt quan tâm xây dựng hình tượng làng, tế bào không thể thiếu và đặc biệt quan trọng của đất nước. Làng là nơi sinh ra các bậc vua, chúa, anh hùng cho đến chí sĩ. Nơi sinh ra người nông dân một nắng hai sương trên các cánh đồng. Làng là nơi làm hầm chông đánh giặc, nơi chôn nhau, cắt rốn, nơi hẹn hò lứa đôi, nơi đợi chờ, hy vọng, nơi gửi gắm niềm tin và cuối cùng là nơi trú ngụ của bao cuộc đời. Nhưng không chỉ có thế, làng như một thành đồng vững chắc, trấn giữ quân thù cho dù phải hy sinh tất cả để bảo vệ quê hương: “Tôi đang thả diều/ chỗ làng bây giờ được Nhà nước chứng nhận “Làng có công với nước”/ nhưng cả làng không còn sót một ai/ không sót một nóc nhà/ không sót một gốc cây/.../ Cả làng chết không còn ai chôn cất/.../ nhưng quê tôi vẫn hò reo theo tiếng hát: Tiến quân ca/.../ Tiếng xung phong rung chuyển Điện Biên/ lá cờ tung bay trên đỉnh Him Lam có tên Nguyễn Hữu Oanh/ Đường tới nóc hầm bọc sắt của Đờ-cát, có tên Tô Vĩnh Diện/.../ Quê tôi trùng trùng trong đoàn quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”/.../ khúc Tiến quân ca vang lên dậy đất/ những tên làng quê tôi cuồn cuộn chảy về”.

Vẫn bám theo dòng chảy các con sông để triển khai ý tưởng biểu đạt về đất và người xứ Thanh qua các vần thơ, nhưng nhà thơ không tuân theo một dòng chảy thuận, mà nhiều khi đảo chiều thời gian và lệ thuộc vào cảm xúc của những dòng ký ức để chủ ý đan xen kể về công cuộc xây dựng quê hương và tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta trong cả bốn chương thơ. Tuy nhiên, đến chương 4 - chương cuối cùng, khí thế hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã trào lên trên từng trang thơ vừa bi thương, vừa hào hùng, tráng lệ: “Tôi thả diều/ chỗ vinh danh hàng chục ngàn Bà mẹ Việt Nam Anh hùng/ trong chống Pháp và trong chống Mỹ/ hàng trăm ngàn liệt sĩ qua hai cuộc chiến tranh/.../ tôi nhận ra trong ngọn lửa trống đồng/ nửa Thanh Hóa ở đất Thăng Long/ nửa Thanh Hóa ở kinh thành Huế/ nửa Thanh Hóa trong điệu hò xứ Quảng/ không dô huầy, vẫn giọng dô khoan/ nửa Thanh Hóa trong thơ vua Thái tổ khắc vách đá sông Đà/ nửa Thanh Hóa trong thơ vua Lê Thánh tông khắc núi Truyền Đăng/.../ vùng đất của sông Mã, sông Chu/ một vùng đất mang hình ngọn lửa”.

Với khát vọng đem tất cả tinh thần, dũng khí, vẻ đẹp quê hương, vẻ đẹp trong cốt cách con người của mảnh đất địa linh, nhân kiệt vào những trang trường ca của mình, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm đã trình làng một trường ca mang hơi thở đất đai, sông núi, cả thanh âm của những vùng miền rộng khắp xứ Thanh vào trang viết, tạo nên một mạch nguồn cảm xúc đan xen các lát cắt thời gian cũ, mới. Điều đọng lại trong tâm trí bạn đọc là hình ảnh dung dị nhưng dũng cảm, chân thật nhưng quyết liệt và ý chí quật cường muôn đời bất diệt của con người xứ Thanh qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước. Đó là một bước thành công mới của nhà thơ với dụng ý ca ngợi đất và người xứ Thanh. Tuy nhiên, có một điều nuối tiếc rằng, có lẽ vì biên độ thể loại trường ca phải quy nạp phần lớn ngôn ngữ và những chương kết nối các sự kiện mang yếu tố cần thiết của trường lực thể loại thơ dài, vì thế nên trường ca “Hát nơi cửa sóng” lại thiếu vắng những hình tượng ám ảnh, gây xúc động tâm can bạn đọc như trong các bài thơ ngắn của nhà thơ đã từng công bố, ví dụ một trong các bài đó là bài “Xin về nhận lại” trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, có đoạn, khi đọc lên, lòng bạn đọc rung động những tần suất cảm xúc lắng sâu và nhớ mãi: “Mở trang nhật ký trên tay/ Chữ nào cũng chạm những ngày bom rung/ Chữ thì bom dựng dòng sông/ Chữ thì lửa đỏ vặn cong thành cầu/ Chữ thì máu đẫm chiến hào/ Chữ thì thương tật qua bao tháng ngày/ Hỡi ai những tháng năm này/ Lần theo trang chữ về đây nhận mình/ Ai trong màu lá cỏ xanh/ Ai thành ngọn gió, ai thành phù sa/ Ai thành quả, ai thành hoa/ Ai thành cát sỏi trải ra lót đường/ Ai thành tượng, ai thành gương/ Ai cầm liềm hái, ai giương cờ hồng/ Đã bom đạn với Hàm Rồng/ Đắng cay chua ngọt cũng trong một nhà/...”. Với bút lực còn dồi dào, vốn ngôn ngữ phong phú, bạn đọc hy vọng ở nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm sẽ đem đến cho công chúng những trường ca mang sức mạnh của cả dân tộc trong tương lai.

Viên Lan Anh




Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng.

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]