(Baothanhhoa.vn) - Trong diễn trình lịch sử giữa Đại Việt và Chăm pa từng diễn ra và để lại những dấu ấn sâu đậm. Theo sách Thanh Hóa chư thần lục do Quốc sở quán triều Nguyễn soạn thì tỉnh Thanh Hóa có không ít các bà hoàng, thái hậu, công chúa người Chăm được phụng thờ. Qua khảo sát, ở miền xuôi có đền thờ Liệt nữ Mỹ Nương ở xã Diên Hy nay là xã Định Hưng, huyện Yên Định.

Tin liên quan

Đọc nhiều

Đền Ngốc - ngôi đền thiêng bên dòng Mã Giang hùng vĩ

Trong diễn trình lịch sử giữa Đại Việt và Chăm pa từng diễn ra và để lại những dấu ấn sâu đậm. Theo sách Thanh Hóa chư thần lục do Quốc sở quán triều Nguyễn soạn thì tỉnh Thanh Hóa có không ít các bà hoàng, thái hậu, công chúa người Chăm được phụng thờ. Qua khảo sát, ở miền xuôi có đền thờ Liệt nữ Mỹ Nương ở xã Diên Hy nay là xã Định Hưng, huyện Yên Định.

Đền Ngốc - ngôi đền thiêng bên dòng Mã Giang hùng vĩ

Cửa Hà (Cẩm Thủy). Ảnh: Cao Hùng

Bà sinh ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1242), mất ngày 12 tháng 6 thời Hưng Long. Thần tích chép:“Thần là phu nhân của nước Chiêm Thành tên là Nguyễn Mỹ Nương. Khi vua nước Chiêm Thành bị hại, nàng tự nghĩ thế cô khó chống, bèn tìm đến địa giới huyện Yên Định trấn Thanh Hóa dựng nhà, chiêu dụ nhân dân lập đông khai hoang trở thành dân xã này... Nhân dân nghĩ nhớ công đức bèn lập đền thờ”. Trải các đời, triều đình phong kiến sắc phong cho bà mỹ tự: Cẩn tiết đoan thục liệt nữ Quý nương tôn thần.

Riêng ở huyện miền núi Cẩm Thủy có đền thờ Chiêm quốc Hoàng Phi tôn thần thờ ở thôn Ngoại Sơn; đền thờ Trung Liệt hiển uy công chúa tôn thần và đền Ngốc thờ công chúa con vua Chiêm Thành ở tổng Mông Sơn.

Đền Ngốc nằm bên bờ sông Mã, soi bóng núi Cửa Hà vốn nổi tiếng là “sơn kỳ thủy tú, nhất thắng địa dã... Vượng khí trung anh, cố nghi giáp ư thiên hạ dã”, trước khi rời non cao, dòng sông mở rộng lòng êm ả chảy về xuôi và hòa vào đại dương xanh thẳm. Đền này xưa thuộc thôn Trung Sơn, tổng Mông Sơn, nay thuộc xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, nơi sinh sống của đồng bào Mường - Việt tỉnh Thanh. Theo các bậc cao niên, vùng này xưa có rất nhiều chim Ngốc (tiếng Mường), loài chim chuyên bắt cá ngược dòng ở đoạn thác có đá ngầm chắn ngang sông. Dân sơn tràng rất lo sợ khi phải vượt thác này: Năm ba ngọn thác đã từng/ Lòng còn e sợ Ngốc Cùng mà thôi. Bởi vậy, dân gian đã lấy tên loài chim bói cá - chim Ngốc để đặt tên cho ngôi đền và dòng thác hiểm trở.

Đền Ngốc nhìn ra sông Mã, phía Tây là dòng thác nước tung trắng xóa. Từ non cao, dòng Mã giang cuốn theo sỏi đá trôi về tới đây thì dạt vào trước đền Ngốc những hòn sỏi tròn lẳn, lấp lánh và ánh lên muôn màu sắc. Dân gian nói rằng những viên sỏi kia có màu trắng tựa như dòng sữa của Trang Tiết Phương Nghi trải theo năm tháng tích tụ lại mà thành; những viên màu đen chính là màu của mái tóc dài với hương thơm lan tỏa; viên màu hồng tựa đôi môi tươi đỏ; viên màu xanh ngọc bích giống với đôi mắt buồn của thiếu nữ người Chăm và những viên đá sỏi thạch anh trong suốt như pha lê chính là những giọt nước mắt của công chúa có lúc thầm rơi lệ vì trong sâu thẳm con tim, lòng không chút nguôi ngoai vọng hồn về cố quốc. Phía Nam kế bên đền Ngốc là Cửa Hà, ngọn núi như bức tường thành dựng bên sông, khởi đầu của dãy núi Mông Sơn cổ đổ bóng, chở che ngôi đền thâm nghiêm, cô tịch. Trên mái đền, vách đá còn lưu nét chạm bằng chữ Hán của nhà thơ khuyết danh đề vào năm Quý Tỵ, đời Thành Thái (năm 1893), ngợi ca vẻ non sông kỳ thú nơi này: Núi cao vời vợi nước trong xanh/ ... Văng vẳng nhạc thiều êm sáo trúc/ Rì rầm suối ngọc khúc liên thanh... Sau đền có cánh đồng rộng, viền theo là dãy núi hình cánh cung bao bọc.

Đền Ngốc được khởi dựng từ thế kỷ XV, đến thời Tự Đức (năm 1872) thì được trùng tu, tôn tạo; đời Thành Thái, đền được mở rộng với quy mô bề thế hơn. Cấu trúc đền hình chữ đinh, tiền đường là ngôi nhà 5 gian làm bằng gỗ quý với đường kính phải hai người ôm mới xuể, chạm hình tứ linh, tứ quý: trúc hóa long, cúc mãi khai và cúc dây leo có ít nhiều ảnh hưởng của chạm khắc Chăm. Hậu cung là ngôi nhà dọc 3 gian, chạm khắc khá tinh xảo. Chính giữa hậu cung là một nhang án làm bằng đá, chạm khắc không cầu kỳ, dưới nhang án tương truyền là mộ theo kiểu “thượng sàng hạ mộ”. Cấu trúc này khá giống với nhiều đền thờ các vị tướng là người xứ Thanh có công bình Chiêm hồi thế kỷ X-XIII. Trước đền có sân rộng, hai bên trồng cau và trầu tươi tốt - gợi nhớ về bộ tộc cau (phía Bắc) của xứ sở Chăm. Tam quan hai tầng mái uy nghi, đường lát đá và xây bậc dẫn ra bến nước. Trong đền có nhiều đồ thờ cổ. Thần vị ghi rõ duệ hiệu của triều đình phong tặng bà là: Trang Tiết Phương Nghi.

Về thần tích của công chúa được sách Thanh Hóa chư thần lục chép: “Trang Tiết Phương Nghi công chúa tôn thần: Xã Trung Sơn, huyện Cẩm Thủy thờ. Thần là con gái thứ hai của Vua Chiêm Thành. Khi nước có giặc Man làm loạn, công chúa cùng Thái phi chạy sang xã trên để luyện tập quân mã lo phục thù mà chưa được. Chợt một đêm mộng thấy rùa thần cắn. Vài tháng sau mắc bệnh rồi chết rất linh ứng. Nhân dân bèn lập đền thờ”.

Người coi đền và bà con trong vùng còn cho biết: Trang Tiết Phương Nghi sinh ngày 15 tháng 8 năm Mậu Thân. Ngày ấy Chiêm Thành có họa nên Hoàng hậu và công chúa phải dắc díu nhau dạt sang đất Đại Việt. Khi hoàng hậu và công chúa tới vùng đất Mông Sơn này thấy cảnh vật tốt tươi, núi sông hùng vĩ bèn cho rằng nơi đây là đất thiêng lại khuất nẻo, dễ bề gây dựng binh lực, đợi ngày quay về cố hương để đánh đuổi giặc Man, khôi phục giang san.

Đến vùng đất mới, công chúa và những người theo hầu đã khai sơn phá thạch, bắt đất đai và bãi bồi của phù sa sông Mã dâng cho con người sự sống. Cùng lúc, nàng giả là nam nhi đứng ra chiêu mộ dân sở tại khai mường, lập ấp, lại mang theo những giống cây trồng lạ có năng suất cao, đơm hoa kết trái nơi vùng đất mới nên chẳng mấy chốc khiến cho vùng đất nơi thâm sơn cùng cốc này trở nên trù phú. Nhiều lần bọn giặc cỏ đi qua cướp phá, vốn thông minh lại cao cường võ nghệ, nàng và dân làng khiến cho giặc cướp phải kinh hoàng và không dám trở lại quấy phá nữa, cuộc sống của người dân lại bình yên no ấm như những ngày nào. Vào một đêm xuân tháng Giêng, công chúa đang say giấc nồng thì mơ thấy có con Giải lớn từ ngoài biển bơi ngược sông Mã tới Cửa Hà rồi trồi lên mặt nước, băng qua bờ cát, trên mình ánh lên màu vàng sắc bạc... tiến đến trước công chúa và nói: Vua nước Chăm pa cho đòi công chúa về. Sáng ra, dân làng chẳng thấy nàng đâu nữa, ngay chỗ công chúa nằm ngủ có một tổ mối đùn lên thành ngôi mộ lớn, bèn lập đền thờ. Mỗi khi có công to việc lớn đến trước linh sàng kêu cầu tất được linh ứng.

Vào thế kỷ XV, trong một lần chinh phạt quân phiến loạn ở miền Tây Thanh Hóa, Vua Lê Thái tông đã cho quân dừng lại Cửa Hà, cắt cử quan quân vào rừng hái rau, kiếm củi... đợi sáng hôm sau thì vượt sông, nhưng chẳng may không rõ là vì ăn phải rau độc hay vì sơn lam chướng khí mà trong đoàn quân có nhiều người bị bệnh mà chết. Vua bèn cho người đi dò hỏi thì được biết bên núi Mông Sơn về phía Đông Bắc có ngôi đền rất thiêng, vua liền soạn lễ và cầu đảo. Quả như điều linh ứng, trong khi giáp trận, trên không trung sấm sét nổi lên ầm ầm như có tiếng binh đao va vào nhau và vạch nên ánh sáng chói lòa... Quân tạo phản thấy vậy hoảng hồn kinh sợ, quân của Vua Lê xông lên, không đánh mà tan. Trước khi lui binh trở về kinh đô. Đêm đó nhà vua thấy hiện ra trước mắt một thiếu nữ mang trang phục tựa Vũ nữ Apxara đến trước nhà vua mà lạy. Bừng tỉnh, Vua Lê Thái tông cho rằng linh khí núi sông và thần nhân nơi đây linh thiêng đã ngầm giúp cho nhà vua thắng giặc, vua bèn sức cho quan dân tu tạo, mở rộng ngôi đền khang trang hơn trước. Nhà vua đã ban sắc cho công chúa là Trang Tiết Phương Nghi.

Hàng năm tại đền Ngốc thờ Trang Tiết Phương Nghi có ba ngày tế lễ chính. Ngày 12 tháng Giêng hàng năm là lễ kỳ phúc và mở hội làng, ngày 13 tháng tư là giỗ kỵ của bà và ngày 15 tháng Tám là ngày sinh của công chúa. Trong 3 kỳ lễ, vào dịp lễ kỳ phúc (ngày 12 tháng Giêng) là lớn hơn cả. Lễ hội có rước kiệu thờ, rước cỗ tam sinh, bánh chưng, bánh dày... dâng thần. Cửa Hà, đền Ngốc vốn là bến tập kết lâm sản phong phú “Trống Đồng Cổ, gỗ Phong Ý”. Lâm sản từ Cửa Hà – miền rừng núi tỏa đi muôn nơi, bởi vậy trong dịp lễ mùa xuân ở đền Ngốc đã thu hút dân chúng không chỉ trong vùng mà còn cả du khách và những người làm nghề “sơn tràng”, buôn gỗ, lâm sản ở khắp nơi hội tụ về đây dâng lễ và cầu mong Bà Chúa người Chăm và các vị thánh thần phù hộ cho họ có một năm làm ăn thuận lợi, dân khang vật thịnh, mùa màng bội thu, nghề sơn tràng gặp nhiều may mắn, người buôn gỗ, lâm sản được “xuôi chèo, mát mái”... Cùng với các nghi thức tế lễ thành kính và trang nghiêm, phần hội cũng diễn ra tưng bừng, náo nhiệt với các làn điệu hát xường, hát giao duyên, chơi đu, đẩy gậy, ném còn, đua ngựa, bắn nỏ... Cuộc thi đua thuyền ngược thác Ngốc Cùng trên dòng Mã giang hùng vĩ diễn ra sôi động.

Trong kỳ lễ hội xuân, tri ân công đức của tiền nhân cũng là dịp các làng chạ dắc díu nhau vào hội, thăm chạ anh em không kể đồng bào Kinh từ Mỹ Xuyên (Vĩnh Lộc), Phú Khê (Hoằng Hóa), làng Hoành (Yên Định)... lên, hay đồng bào Mường làng Muốt (Cẩm Thành) xuống hay Đồng Lão (Cẩm Ngọc) sang; di duệ của người Chăm hòa chung tâm thức với người Việt tưởng nhớ tới cội nguồn, thắt chặt mối dây đoàn kết nặng nghĩa đồng bào, đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc anh em sống trên đất Việt.

Đền Ngốc - ngôi đền thiêng trên đất tỉnh Thanh là một minh chứng cho sự giao lưu về văn hóa, tín ngưỡng giữa Đại Việt và Chăm pa, cần được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ.

Tài liệu tham khảo:

- Quốc sử quán triều Nguyễn, Thanh Hóa chư thần lục, ký hiệu 11234 chữ Hán Nôm, bản đánh máy lưu tại Thư viện tỉnh Thanh Hóa.

- Cao Sơn Hải, Một đền thờ công chúa Chiêm Thành, nguồn Báo Văn hóa - Thông tin, năm 2009.

Hoàng Minh Tường (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)


Hoàng Minh Tường (Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy)


Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng.

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]