(Baothanhhoa.vn) - Nhà sử học Phan Huy Chú trong Nhân vật chí mô tả võ tướng Lê Khôi dưới cờ khởi nghĩa Lam Sơn của Bình Định vương Lê Lợi tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418): “Mình đeo bên tả túi tên, bên hữu túi cung, theo vua ra trận, công lao rực rỡ”(1). Lê Khôi là con Lê Trừ, anh thứ hai của Lê Lợi, đã mất sớm. Lê Lợi xem Lê Khôi như con đẻ, tình nghĩa chú cháu rất thắm thiết.

Tin liên quan

Đọc nhiều

Chiêu Trưng Vương Lê Khôi

Nhà sử học Phan Huy Chú trong Nhân vật chí mô tả võ tướng Lê Khôi dưới cờ khởi nghĩa Lam Sơn của Bình Định vương Lê Lợi tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418): “Mình đeo bên tả túi tên, bên hữu túi cung, theo vua ra trận, công lao rực rỡ”(1). Lê Khôi là con Lê Trừ, anh thứ hai của Lê Lợi, đã mất sớm. Lê Lợi xem Lê Khôi như con đẻ, tình nghĩa chú cháu rất thắm thiết.

Trận Bồ Ải (1424), quân Minh chiếm cửa ải Khả Lưu của nghĩa quân, đóng trên núi, đắp lũy chung quanh để phòng ngự. Lê Lợi đóng quân ở Bồ Ải, tự đốt dinh trại, ngược dòng sông lên phía trên, giả như sợ địch nên bỏ trốn, rồi ngầm đi đường tắt, bí mật trở lại chỗ cũ, phục binh tại nơi núi đèo hiểm trở và chẹn giữ các lối hiểm yếu. Hôm sau Lê Lợi đem quân tinh nhuệ khiêu chiến trước cửa ải Khả Lưu. Quân Minh mở cửa lũy tiến ra đánh. Đợi chúng đến Bồ Ải, Lê Lợi tung phục binh xông vào trại giặc. Lê Khôi tranh nhau với các tướng để tiến lên trước phá trận đánh tan quân Minh, chém đầu giặc khôn xiết kể. Thuyền giặc bỏ lại chặn ngang dòng nước, xác chết lấp sông, khí giới vứt bỏ đầy núi. Nghĩa quân bắt sống tướng Minh Chu Kiệt, chém chết tướng tiên phong Hoàng Thành, hàng ngàn quân sĩ đành giơ tay chịu trói. Bọn chỉ huy Trần Trí, Sơn Thọ thu nhặt tàn quân chạy thẳng một mạch về thành Nghệ An cố thủ. Từ đó thanh thế nghĩa quân lừng lẫy, mở đường thắng lợi vào Nghệ An, tung hoành khắp miền sông Lam, sông La, dân chúng reo hò mừng đón.

Đầu năm 1427, viện binh quân Minh bị thua to ở Chi Lăng, phó tướng Thôi Tụ và Công bộ thượng thư Hoàng Phúc thu nhặt tàn quân tiến đến phủ lỵ Lạng Giang để vào thành Xương Giang, nhưng thành này đã bị nghĩa quân chiếm từ mười hôm trước. Quân Thôi Tụ – Hoàng Phúc đành đóng đồn ở phía Bắc Xương Giang trên một cánh đồng. Lê Lợi sai Lê Khôi và Phạm Vấn đem vài ngàn binh hỗ trợ cánh quân Đỗ Sát, đánh tan quân giặc, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng mấy vạn tên địch, khiến Tổng binh Vương Thông đóng ở thành Đông Quan khiếp sợ phải quy hàng.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, Lê Khôi được phong chức Kỳ Lân Hổ vệ thượng tướng quân (hơn đại tướng một bậc), tổng quản hành quân, Nhập nội thiếu úy. Sau ông lại được thăng Tư mã, đeo kim phù (loại bề tôi có công, thân tín của vua). Năm sau, khắc biển công thần, Lê Khôi trong nhóm 14 công thần khai quốc, được phong tước Đình thượng hầu (tước hầu bậc bốn).

Năm 1430, tình hình biên giới phía Nam chưa yên ổn, vua sai Lê Khôi làm trấn thủ Châu Hóa. Ông dùng uy đức thu phục lòng dân, bỏ trạm gác biên ải cho dân đi lại làm ăn. Ông chiêu mộ dân lưu tán đến ở, khuyến khích làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm để cái ăn cái mặc được no đủ, khỏi nạn cướp bóc. Tướng sĩ ra sức rèn luyện, giữ gìn vững chắc biên cương, nếu lơ là, chủ tướng nghiêm trị. Do chính sự tốt, Lê Khôi được quân, dân kính yêu, cõi bờ yên tĩnh.

Cuối năm ấy, Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái ở châu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên tranh giành nhau quyền hành và chiếm giữ lãnh địa làm loạn, nhà vua (Lê Thái tổ) hạ chiếu thân chinh, gọi Lê Khôi về làm tướng tiên phong. Đầu năm 1431, Lê Khôi đem quân tiến thẳng vào dinh lũy bọn chúng, bắt sống cả Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái giao nộp trước cửa quân nhà vua. Lê Thái tổ càng quý mến, cho rằng có thể giao phó việc lớn về sau, ban thưởng rất hậu.

Năm 1433, Lê Thái tổ ốm nặng triệu Lê Khôi từ Châu Hóa về triều để bàn về việc lập Thái tử. Vua gọi Lê Khôi vào điện hỏi ý kiến trước rồi mới quyết định giáng con trưởng Tư Tề làm Quận vương, lấy con thứ Nguyên Long nối ngôi đại thống.

Năm 1434, Lê Khôi có công dẹp giặc Đạo Luận cướp phá biên cương, bắt được hơn một nghìn tên địch và vài chục con voi, khiến quốc vương Bố Đề nước Chiêm từ bỏ âm mưu đem đại binh đánh phá Đại Việt.

Do công lao giữ gìn an ninh biên cương, năm 1438, Lê Khôi đương chức Nhập nội tư mã Hành quân Tổng quản được thăng lên Nhập nội tư mã Tham tri chính sự Tri Tây đạo, Chư vệ quân sự.

Năm 1439 thổ tù họ Cầm quấy rối phá hại dân biên giới, Vua Thái tông (Nguyên Long) sai các tướng đi đánh. Quốc vương Ai Lao nghe lời xúi giục của họ Cầm sai bề tôi Nữu Ước đem hơn ba vạn quân và voi sang giúp Cầm Cương lấn cướp các châu Phục Lễ (huyện Mường Lai, Mường Tè) khí thế rất mạnh. Vua Thái tông thân chinh, sai Lê Khôi phò tá, bắt cầm tù tướng địch là Đạo Mông, quân Ai Lao thua tan chạy về nước. Năm 1440 Lê Khôi lại theo Vua Thái tông đi đánh châu Thuận Mỗi (Mường Muỗi tức Sơn La, Lai Châu) hỏi tội phản nghịch của Đạo Nghiễm, phải dâng trâu và voi xin hàng. Lê Khôi được tiến phong Nhập nội đô đốc, cho tham dự triều chính, việc lớn việc nhỏ, vua đều hỏi ý ông rồi mới quyết định. Sau vì lời nói thẳng, có điều trái ý vua, Lê Khôi bị cách chức, lui về nhà sống an nhàn, ông lấy làm sự thường, vui với vợ con, ruộng vườn, không hề oán trách.

Năm đầu Thái Hòa, Nhân tông lên ngôi, Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Anh nhiếp chính, (1443) Lê Khôi được triệu ra làm việc, cho giữ chức Nhập nội Thiếu úy, đốc trấn Nghệ An (cao hơn chức cũ). Lúc Lê Khôi mới đến, các sĩ phu, dân chúng Nghệ An đứng chật hai bên đường mừng đón và giơ tay lên trán mừng reo rằng: Chúng tôi mong ông lâu rồi! Ngày nay trời mới giáng phúc cho dân tôi đấy ư? (Phan Huy Chú – Nhân vật chí).

Thời gian Lê Khôi ở trấn Nghệ An chỉ mới vài năm mà tình hình có nhiều đổi khác, mùa màng được, dân chúng yên, vì ông thực hiện chính sách thân dân, việc kiện tụng xét xử công minh, đường làng ngõ xóm vang tiếng ca ngợi công đức của ông.

Năm 1443-1444, hai năm liền, quốc vương Chiêm Bí Cai đem quân cướp phá các thành trì Châu Hóa. Biên thùy nhiều lần cáo cấp về triều, Vua Nhân tông sai Tư đồ Nguyễn Thận, đô đốc Nguyễn Xí đem binh đi đánh, vua lại truyền lệnh cho Lê Khôi thống lĩnh quân lính Nghệ An đi tăng viện. Các quân đều hăng hái, cố sức, một tiếng trống phá tan được giặc. Nghe tin thắng trận, Lê Khôi lập công lớn, quân địch khiếp sợ chạy tan, vua tiến phong ông làm Nhập nội tham tri chính sự, nhưng vẫn ở lại trấn Nghệ An, khi có việc đại sự mới về triều bàn bạc.

Tháng Giêng Bính Dần (1446) Bình chương sự Thái úy Trịnh Khả vâng mệnh đem đại quân đi đánh Bí Cai để diệt trừ tận gốc họa lớn. Đại quân gồm 60 vạn người, do Lê Thụ, Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục chỉ huy. Lê Khôi làm tướng tiên phong đem quân bản bộ Nghệ An tiến trước mở đường cho đại binh. Ông hăng hái đi đầu, phá tan đồn giặc trên biên ải, vượt sông Ly Giang, qua xứ Đa Lang, Cổ Lũy đến cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn, Bình Định). Quân Lê Khôi tiến đánh đến đâu, quân giặc thua tan đến đấy. Ông đóng tại Thị Nại (cũng gọi Thi Nại) chờ quân Lê Thụ, Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục đến hội binh rồi chia đường tiến đánh kinh ấp Chà Bàn.

Khi Lê Khôi mới đến Thị Nại, tướng Chiêm dàn quân đối trận gọi sang hỏi: “Có phải ông Tư Mã đấy không?”. Lê Khôi liền bỏ mũ trụ ra cho quân địch thấy rõ mặt. Tướng Chiêm sợ, xuống ngựa sụp lạy, sai quân mang biếu sản vật, rồi tìm cách tránh, không dám đương đầu. Các cánh quân Chiêm nghe uy danh Tư mã Lê Khôi cũng đều khiếp sợ, vừa đánh vừa lui. Tháng Tư năm ấy (1446) đại quân phá thành Chà Bàn, bắt được quốc vương Bí Cai và các phi tần, bộ thuộc, ngựa voi, đồ quân khí cùng các tướng sĩ rồi thu binh hát khúc khải hoàn.

Trên đường về, Lê Khôi bị bệnh nặng, thuyền dừng lại cửa biển Nam Giới nghỉ tạm. Vì bệnh hiểm nghèo không thể cứu chữa, ông mất ở chân núi Long Ngâm (Thạch Hà, Hà Tĩnh). Tướng sĩ đều thương khóc, kêu gào dậy trời đất. Tin buồn báo về Kinh đô Thăng Long, triều đình vô cùng thương tiếc, vua bãi triều ba ngày, sai quan Hữu tư đi thăm điếu, trước phong tặng Nhập nội đô đốc, ban tên thụy là Trung Hiến, sau truy tặng Nhập nội kiểm hiệu Tư không, Bình chương sự, đổi tên thụy Vũ Mục công.

Nhân dân Châu Hoan (Hà Tĩnh) xin chôn cất Lê Khôi ở ngọn Long Ngâm và lập đền thờ tại chân núi Nam Giới ngay chỗ ông mất.

Ngọn Long Ngâm thuộc dãy núi Nam Giới là thắng cảnh nghìn xưa của Châu Hoan. Năm 1463, con trai Lê Khôi là Lê Cảnh Du làm Nhập nội Đại hành khiển, tâu xin Vua Lê Thánh tông cho dựng bia ở Nam Giới để ghi sự tích Vũ Mục công. Nhà vua đặc sai Nguyễn Như Đổ soạn văn khắc vào bia đá để lưu truyền muôn đời. Ít lâu sau, Thánh tông lại truy phong Lê Khôi tước Chiêu Trưng vương.

Đền thờ Lê Khôi ở gần bờ biển phía Tây Bắc Nam Giới sóng gió bất thường, quan Hữu tư (Bộ Lễ), tâu vua cho dời về xã Triều Khẩu, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An (Châu Hoan). Nơi này cũng nổi tiếng danh thắng. Sông La gặp sông Lam chảy qua đây, nước trong mát, cây cối xanh tươi. Bến Phù Thạch có mấy chòm đá bạc nổi lên lập lờ giữa dòng nước chảy, bọt tung trắng xóa như hoa mai rụng. Đền Lê Khôi ở làng Phú Điền, xã Triều Khẩu, gần Nghĩa Liệt danh sơn và Lam Thành cổ tích, tô thêm vẻ đẹp của một vùng non nước kỳ thú. Thời Trần, danh sĩ, Nguyễn Trung Ngạn đề thơ ca ngợi:

Phiên âm Hán tự:

Triều sinh triều lạc đông tây thủy

Vân hợp vân khai thượng hạ san

Ngư đỉnh phù trầm yên cảnh ngoại,

Tăng già ẩn ước họa đồ gian...

(Trích 4 câu)

Dịch thơ:

Mênh mang trời nước triều lên xuống

Bảng lảng mây đèo khói hợp tan

Thuyền lưới nhấp ngô theo sóng biển

Chùa am thấp thoáng lẩn cây ngàn.

(Hoàng Tuấn Phổ)

Đền Lê Khôi ở Triều Khẩu, nhân dân thường gọi là đền Vũ Mục. Thời gian trôi qua, sông Lam đổi dòng, đền Vũ Mục bị sạt lở, nhân dân địa phương phải rước tượng Lê Khôi thờ ở chân núi Khánh Sơn. Tấm bia đá khắc bài văn bia do Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ soạn cũng được chuyển về nơi thờ mới. Năm 1647 đời Lê Thần tông, triều đình giao các xã Mai Phụ, Vĩnh Trung, Kim Đôi, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh phụng thờ theo điển lễ quốc tế.

Năm Hồng Đức thứ nhất (1470) Vua Lê Thánh tông trên đường Nam chinh, ghé thăm đền, đề một bài thơ nôm:

Điếu Lê Khôi

Dẹp yên tám cõi mới buông tay

Lồ lộ thai tinh (1) một đóa mây

Tể tướng bếp tàn mai lạnh vạc

Tướng quân doanh vắng liễu chau mày

Phong lưu phú quý ba đời thấy

Sự nghiệp công danh bốn bể hay

Thương ít tiếc nhiều khôn xiết chế (2)

Miếu đường hầu lấy cột nào thay!

(Quốc âm thi tập)

Trong một bài thơ đề vịnh một số khai quốc công thần Khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Thánh tông xem Lê Khôi là một tướng võ tài năng đức độ kiệt xuất sánh ngang tướng văn Nguyễn Trãi:

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo(3)

Vũ Mục hung trung liệt giáp binh

(Nghĩa: Nguyễn Trãi lòng dạ sáng như sao Khuê buổi sớm, Lê Khôi trong bụng chứa đầy mưu lược đánh giặc).

Chẳng những nhà Lê, đến nhà Nguyễn cũng đánh giá rất cao công trạng tài đức của Lê Khôi. Năm Minh Mệnh thứ tư, ông được thờ ở miếu Lịch đại đế vương, đến năm Minh Mệnh thứ 16, Lê Khôi được đưa vào thờ ở Võ miếu cùng với Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Dật, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật... Trong Việt sử tổng vịnh, Vua Tự Đức ca ngợi Lê Khôi:

Chữ Hán phiên âm:

Bách chiến gian quan phụ tử binh

Lịch dương trung ngoại dạ năng thanh.

Hoan Châu di miếu thiên thu tại

Huân thần lương tướng đệ nhất danh.

Dịch nôm:

Một lòng tướng sĩ tựa cha con

Trăm trận gần xa nức tiếng đồn

Nghìn thuở Hoan Châu còn miếu điện

Hiền thần, lương tướng dễ ai hơn!

Miếu điện Hoan Châu, dân địa phương quen gọi tên đền Vũ Mục, đúng ra là đền Chiêu Trưng vương vì năm 1463 Lê Thánh tông cho dựng bia Vũ Mục công, ít lâu sau nhà vua lại truy phong Lê Khôi tước Chiêu Trưng vương. Xưa đền miếu nguy nga, ba tòa điện vũ, nay chỉ còn ngôi miếu nhỏ ở làng Lộc Điền, xã Hưng Khánh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An(4), nhưng công trạng Lê Khôi với tước phong Chiêu Trưng vương vẫn sáng nghìn thu trong trang Quốc sử. Con trai ông là Lê Cảnh Du nối dõi sự nghiệp ông làm quan tới Nhập nội Đại hành khiển Tổng quản.

(1). Thai tinh: Ba ngôi sao lớn trên trời. (2) Chế sách của vua ban tước phong cho Lê Khôi. (3) Nhiều bản chép là táo. (4) Theo Địa chí văn hóa huyện Hưng Nguyên (Ninh Viết Giao chủ biên).

Hoàng Tuấn Phổ


Hoàng Tuấn Phổ


Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng.

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]