Phát triển vùng nguyên liệu bền vững - Hướng tới chuỗi giá trị toàn cầu (Bài cuối): Giải pháp nào để “giữ chân” các vùng nguyên liệu?
Để các vùng nguyên liệu phát triển bền vững, không chỉ mở rộng quy mô, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, giá trị và xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp. Vì vậy, muốn giữ được các vùng nguyên liệu, cần một chiến lược đồng bộ từ cơ chế chính sách, đầu tư hạ tầng đến tái cấu trúc sản xuất theo hướng hiện đại, bền vững.

Nhà máy chế biến tinh bột sắn Phúc Thịnh, xã Kiên Thọ thu mua, tập kết sắn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Ảnh: Lê Hợi
Doanh nghiệp - “chìa khóa” để phát triển bền vững
Trong bài toán phát triển vùng nguyên liệu, doanh nghiệp được xem là mắt xích quan trọng nhất. Khi doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị, từ cung ứng giống, chuyển giao kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm, sản xuất nông nghiệp mới có tính ổn định và khả năng cạnh tranh dài hạn.
Hiện nay, toàn tỉnh có 30 doanh nghiệp có nhà máy chế biến nông sản quy mô lớn. Trong đó, 7 doanh nghiệp chế biến lúa gạo với tổng công suất 235.000 tấn/năm; 2 doanh nghiệp chế biến mía đường với tổng công suất 1.680.000 tấn/năm; 5 doanh nghiệp chế biến tinh bột sắn với tổng công suất 160.200 tấn/năm; 10 doanh nghiệp chế biến rau quả với tổng công suất 21.500 tấn/năm; 6 doanh nghiệp chế biến trái cây với tổng công suất 13.600 tấn/năm...
Trên thực tế, ở những địa phương có doanh nghiệp đồng hành, vùng nguyên liệu phát triển bài bản hơn, nông dân yên tâm sản xuất hơn và sản phẩm cũng dễ dàng tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp đầu tư sản xuất gắn với phát triển vùng nguyên liệu hiện vẫn chưa nhiều, đặc biệt ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Một trong những nguyên nhân là do lĩnh vực nông nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro, thời gian thu hồi vốn dài, trong khi cơ chế, chính sách vẫn chưa thực sự tạo sức hút mạnh mẽ. Dù tỉnh đã ban hành nhiều chính sách về phát triển nông nghiệp, tích tụ đất đai, ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản phẩm chủ lực, nhưng việc triển khai trên thực tế còn thiếu đồng bộ, chưa sát với nhu cầu của doanh nghiệp và người dân.
Theo bà Lê Thị Vân, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao Rich Farm, xã Sao Vàng: “Để phát triển vùng nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, cần có các chính sách hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp thực chất, sát với nhu cầu thực tế sản xuất hơn. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, tháo gỡ các thủ tục hành chính rườm rà để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị bền vững từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ”.
Đây cũng là thực trạng chung của nhiều doanh nghiệp đang đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp hiện nay. Không ít doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô vùng nguyên liệu nhưng gặp khó trong tiếp cận quỹ đất, thiếu hạ tầng phục vụ sản xuất hoặc khó tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi. Để doanh nghiệp thực sự trở thành “đầu tàu” của vùng nguyên liệu, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng minh bạch, ổn định và đủ hấp dẫn. Trong đó, các chính sách hỗ trợ cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi như tín dụng, đất đai, hạ tầng, quy hoạch hợp lý vùng sản xuất tập trung và chuyển giao công nghệ. Trong đó, tích tụ, tập trung đất đai vẫn là giải pháp quan trọng hàng đầu. Chỉ khi có quỹ đất đủ lớn mới có thể áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Cùng với đó, cần khuyến khích doanh nghiệp liên kết với HTX, tổ hợp tác và nông dân thông qua các hợp đồng sản xuất rõ ràng, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các bên.
Song song với cơ chế chính sách, đầu tư hạ tầng cũng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của vùng nguyên liệu. Hiện nay, nhiều vùng sản xuất tập trung vẫn thiếu hệ thống giao thông nội đồng, kho lạnh, cơ sở bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Đặc biệt tại các xã miền núi, việc đầu tư hạ tầng cần được ưu tiên hơn nhằm tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất. Khi giao thông thuận lợi, logistics được cải thiện và có nhà máy chế biến gắn với vùng nguyên liệu, giá trị nông sản sẽ được nâng lên. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số đang trở thành xu hướng tất yếu trong phát triển nông nghiệp hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Điều quan trọng hơn cả là phải bảo đảm lợi ích hài hòa giữa người dân, HTX và doanh nghiệp. Khi các bên cùng hưởng lợi, vùng nguyên liệu mới có thể phát triển bền vững và đủ sức “giữ chân” các chủ thể tham gia.
Tái cấu trúc sản xuất theo chuỗi giá trị
Hiện nay, ngành nông nghiệp của tỉnh đang tập trung tái cấu trúc sản xuất theo hướng tập trung, chuyên canh và gắn với chuỗi giá trị. Theo định hướng phát triển trong những năm tới, toàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển các vùng cây trồng thâm canh, vùng sản xuất tập trung và các mô hình sản xuất mang lại giá trị kinh tế cao. Cụ thể, duy trì 150.000ha lúa thâm canh năng suất, chất lượng cao; 20.000ha ngô thâm canh; 12.000ha mía; 13.600ha sắn; 13.500ha rau an toàn; 325ha hoa, cây cảnh công nghệ cao; 12.000ha cây ăn quả tập trung và 17.000ha cây thức ăn chăn nuôi.
Ngày 25/2/2026, UBND tỉnh đã công bố Quyết định số 587/QĐ-UBND về tổng diện tích quy hoạch vùng lúa chất lượng cao toàn tỉnh, theo đó, diện tích được công bố là hơn 24.032ha, phân bố tại 76 xã, phường. Các vùng trồng được quy hoạch rộng khắp tại các xã thuộc khu vực đồng bằng, trung du và miền núi như: Yên Định, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Như Xuân. Qua đó, từng bước khắc phục những cánh đồng manh mún, nhỏ lẻ, hình thành các vùng chuyên canh tập trung thúc đẩy liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp, nhằm nâng cao giá trị hạt gạo, nâng thu nhập cho người dân.
Bên cạnh đó, ở từng địa phương, ngành nông nghiệp cũng định hướng phát triển vùng trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên và lợi thế địa phương. Tại khu vực Mường Lát cũ, ngành nông nghiệp xác định giữ vững ổn định diện tích lúa nước, lúa nương hiện có. Đồng thời, từng bước phát triển vùng nguyên liệu sắn và các loại cây trồng phù hợp với điều kiện địa hình miền núi. Đối với các xã miền núi cao như Quan Sơn, Hồi Xuân, Bá Thước, Linh Sơn, Thường Xuân... trọng tâm là duy trì và phát triển vùng nguyên liệu mía khoảng 3.300ha, sắn 4.400ha; ổn định 17.500ha lúa nước với sản lượng hơn 93.300 tấn. Trong khi đó, khu vực miền núi thấp như Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Kim Tân, Như Thanh, Như Xuân tập trung phát triển các loại cây trồng có lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng như cam, bưởi, dứa, thanh long, ổi, vải không hạt, nhãn chín sớm... phục vụ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trái cây đang đầu tư trên địa bàn. Các vùng nguyên liệu mía 8.100ha, sắn 7.200ha, cao su 5.400ha và cây thức ăn chăn nuôi 4.500ha tiếp tục được duy trì và phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Ở khu vực đồng bằng và ven biển việc tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao đang được đẩy mạnh. Đặc biệt, nhiều loại cây trồng như khoai tây, ớt, ngô ngọt, cải bó xôi... được doanh nghiệp liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm đang mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với canh tác truyền thống.
Ông Nguyễn Đức Cường, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: “Ngành nông nghiệp đang tập trung phát triển các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyên canh hàng hóa lớn ứng dụng công nghệ cao; đồng thời nhân rộng các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp sinh thái gắn với chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị”.
Có thể thấy, để giữ vùng nguyên liệu không thể chỉ dựa vào việc mở rộng diện tích sản xuất, mà cần một chiến lược phát triển đồng bộ, dài hạn và bền vững. Khi doanh nghiệp được tạo điều kiện đầu tư, người dân có lợi nhuận ổn định, hạ tầng được hoàn thiện và sản xuất được tổ chức theo chuỗi giá trị, các vùng nguyên liệu mới thực sự trở thành nền tảng cho nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.
Lê Hợi





Bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu