(Baothanhhoa.vn) - Đâu đó trên các cung đường, xen lẫn trong phức hợp thanh âm của phố phường, thi thoảng vẫn cất lên tiếng rao nghe quen thuộc: “Ai dao, kéo Hậu Lộc đê... ê... ê !”. Chẳng phải sản phẩm truyền thống nổi tiếng của một vùng cũng có những lúc thăng trầm đó sao?

Tin liên quan

Đọc nhiều

Trăn trở nghề rèn Tiến Lộc

Trăn trở nghề rèn Tiến Lộc

Các sản phẩm nghề rèn hiện tiêu thụ khá chậm, nhưng gia đình ông Nguyễn Xuân Dũng vẫn cố gắng duy trì sản xuất. Ảnh: Ngọc Anh

Đâu đó trên các cung đường, xen lẫn trong phức hợp thanh âm của phố phường, thi thoảng vẫn cất lên tiếng rao nghe quen thuộc: “Ai dao, kéo Hậu Lộc đê... ê... ê !”. Chẳng phải sản phẩm truyền thống nổi tiếng của một vùng cũng có những lúc thăng trầm đó sao?

Giữ lửa nghề rèn

Tiến Lộc được biết đến là một xã đặc thù với nghề rèn truyền thống có từ lâu đời của huyện Hậu Lộc. Người dân làng rèn Tiến Lộc vẫn còn truyền nhau câu ca:

“Muốn ăn cơm trắng, cá thèn

Thì về quay bễ, đi rèn cùng anh”.

Trải qua các thời kỳ lịch sử của đất nước, nghè rèn Tiến Lộc đã có những đóng góp không nhỏ trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bằng việc rèn các loại vũ khí và công cụ hỗ trợ chiến đấu, đồng thời cũng là nơi cung cấp cho các nhà máy, xí nghiệp những người thợ tài ba trong lĩnh vực rèn, cơ khí.

Tiến Lộc có 3/5 làng có nghề rèn truyền thống gồm làng Ngọ, làng Sơn và làng Bùi. Hiện nay, nghề rèn cũng đã được phát triển rộng ra hai làng còn lại là làng Xuân Hội và làng Thị Trang, với hơn 1.500 hộ/2.700 hộ tham gia, chiếm hơn 50% số hộ trong xã. Chưa kể các hộ đi làm ăn xa, mang nghề rèn đi khắp muôn nơi sinh sống, lập nghiệp trên mọi miền đất nước. Trước đây, nghề rèn ở Tiến Lộc được coi là nghề phụ, tranh thủ làm lúc nông nhàn khi chưa kịp đến thời vụ. Người thợ rèn các loại công cụ, như: Dao, cuốc, liềm... để trao đổi lấy lương thực, thực phẩm và các vật dụng khác. Vì vậy mà từ nghề phụ này cũng đã tạo ra một cuộc sống sung túc cho những người thợ làng nghề.

Đất nước đổi mới, cơ chế thị trường rộng mở, nghề rèn Tiến Lộc cũng có những lúc thăng trầm. Tuy nhiên, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước bằng các cơ chế, chính sách phù hợp đối với các làng nghề truyền thống, đồng thời người thợ đã năng động hơn, du nhập các loại máy móc, công nghệ mới, không ngừng sáng tạo, mở rộng sản xuất, tìm kiếm thị trường. Do vậy, nghề rèn ở Tiến Lộc đã có sự phát triển khá mạnh mẽ. Đặc biệt, Tiến Lộc đã được tỉnh đầu tư và quy hoạch làng nghề tập trung. Tuy số hộ mới chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng số hộ làm nghề trong xã, nhưng đã tạo bước đột phá quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của làng nghề. Hầu hết các hộ trong làng nghề đã xây dựng nhà xưởng và đi vào sản xuất ổn định, thay đổi phương thức sản xuất từ thủ công sang máy móc, công nghệ hiện đại, đầu tư hàng tỷ đồng để mở rộng nhà xưởng. Toàn xã hiện có 6 tổ hợp máy cán rút thép; 6 cơ sở sản xuất chế tạo các loại máy phục vụ nghề rèn, cơ khí và nông nghiệp; trên 20 xưởng sản xuất bánh lồng, cày bừa máy, bu lông, ốc vít; trên 50 đại lý cung cấp nguyên liệu than, sắt; trên 20 đại lý bao tiêu sản phẩm; hàng trăm xưởng lớn nhỏ sản xuất các loại cuốc, xẻng, dao, liềm...; trên 300 máy búa, trên 300 máy đột dập các loại, hàng chục máy tiện, phay, bào, hàng nghìn máy móc phổ thông phục vụ rèn, cơ khí khác... Từ sự phát triển của các loại máy móc đã kéo theo sự thay đổi về hình thức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, chuyển dần từ hình thức tự lập sang liên kết sản xuất.

Sản phẩm nghề rèn giờ đây không chỉ dừng lại ở những công cụ truyền thống mà đã đa dạng các sản phẩm, nhiều chủng loại, số lượng lên đến hàng nghìn loại, chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn. Sản phẩm nghề rèn Tiến Lộc đã vươn đến hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước và sang tận các nước bạn Lào, Campuchia, Thái Lan... Nghề rèn đã tạo việc làm và thu nhập ổn định cho các hộ trong xã, đồng thời thu hút được một lượng lớn lao động từ các nơi lân cận. Mức thu nhập của lao động tại các xưởng sản xuất dao động từ 150-350 nghìn đồng/ngày tùy theo trình độ tay nghề, bậc thợ. Đối với chủ thợ và những hộ không phải thuê nhân công có mức thu nhập cao hơn từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng/ngày. Năm 2018, tổng giá trị thu nhập từ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đạt hơn 330 tỷ đồng, chiếm hơn 90% cơ cấu kinh tế của xã; thu nhập bình quân đầu người của toàn xã là 36 triệu đồng. Từ nghề rèn đã tạo thuận lợi cho dịch vụ, thương mại phát triển mạnh mẽ. Làng nghề là nơi trung tâm giao thương hàng hóa, nghề rèn Tiến Lộc bao đời nay vẫn được duy trì và phát triển tốt, tạo nên danh tiếng cho sản phẩm truyền thống.

Còn đó những trăn trở...

Nan giải nhất của làng nghề hiện nay vẫn là môi trường tiếng ồn, đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt của người dân và việc học hành của con trẻ. Vì là nghề đặc thù, bát cơm manh áo nên khó mà cấm được tiếng đe, tiếng búa nhức óc, đinh tai.

Bên cạnh đó, mặc dù đa dạng về sản phẩm nhưng sản phẩm nghề rèn vẫn phải cạnh tranh khốc liệt về thị trường, mẫu mã, giá cả... Hộ gia đình ông Nguyễn Xuân Dũng ở làng nghề rèn cơ khí Tiến Lộc đã hoạt động được 30 năm nay. Trên diện tích nhà xưởng 400m2, gia đình ông sản xuất chủ yếu cày, bừa, bánh lồng phục vụ nông nghiệp tại địa phương, các xã lân cận và xuất đi các tỉnh phía Bắc. Ông Dũng buồn bã nói: “Sản phẩm của gia đình làm ra hoàn toàn phụ thuộc theo mùa vụ nông nghiệp. Nhưng những năm gần đây bà con bỏ ruộng nhiều nên nông cụ sản xuất bán ra chậm hơn. Rồi phải cạnh tranh với các sản phẩm của Trung Quốc, của tỉnh ngoài, nên không đủ điều kiện để tái đầu tư sản xuất”. Với hộ gia đình anh Lê Bá Thanh ở làng Ngọ còn khó khăn hơn. Anh Thanh trầm tư: “Gia đình tôi chủ yếu có hai vợ chồng làm nghề tại nhà. Vốn ít, vay khó, cơ sở quy mô nhỏ lẻ, sản xuất mỗi sản phẩm là dao, bình quân mỗi ngày làm được 10 sản phẩm, có lúc bán được, có lúc ế ẩm nên duy trì được là tốt lắm rồi”.

Để giải quyết khó khăn cho làng nghề buộc phải mở rộng diện tích và tập hợp, thu hút được nhiều hộ sản xuất lớn vào trong làng nghề. Tuy nhiên đến nay mới chỉ có ít hộ (60 hộ) vào làng nghề, còn lại hơn 1.000 hộ vẫn sản xuất trong khu dân cư. Nhiều hộ mong muốn được Nhà nước hỗ trợ bằng các cơ chế, chính sách đối với nghề, làng nghề, vay vốn không lãi suất hoặc được hưởng các ưu đãi theo dự án, các chính sách thuế và hỗ trợ khác...

Đối với các hộ đang hoạt động trong làng nghề, vừa sản xuất vừa sinh hoạt cũng có cái khó riêng. Thực tế, khi mới thành lập, địa phương đã kêu gọi nhưng nhiều hộ không tha thiết vào làng nghề sản xuất. Vì họ cho rằng chỉ sản xuất mà không được ở thì rất bất tiện. Để tạo cơ chế mở, địa phương phải đồng ý cho các hộ vừa làm, vừa ở để thuận tiện về thời gian, đi lại và trông coi tài sản, nhưng cũng không cho phép làm nhà tầng, nhà kiên cố. Tuy nhiên, một số hộ đã lợi dụng cơ chế để làm nhà kiên cố, nhà mái bằng. Các cấp, chính quyền địa phương đã vào cuộc quyết liệt, nhưng dẹp được chỗ này lại làm chỗ kia. Huyện phải “nới lỏng” cơ chế theo cách “cấm” xây nhà tầng, chỉ cho xây nhà bằng. Nhưng một số hộ lại làm theo kiểu “đối phó”, ở ngoài nhìn là nhà xưởng, nhưng bên trong làm gác xép hai tầng. Trăn trở với những khó khăn trong công tác quản lý, lãnh đạo địa phương đã tham khảo ở nhiều làng nghề, tra cứu nhiều văn bản pháp luật, thấy không có văn bản nào quy định đất sản xuất không cho làm nhà hai tầng, có điều phải được cấp phép của cơ quan có thẩm quyền mới được xây dựng.

Cùng với đó là những tồn đọng về ruộng bỏ hoang. Địa phương vẫn đang tăng cường giải quyết vấn đề này, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ tổ chức sản xuất. Nếu các hộ tiếp tục để ruộng bỏ hoang kéo dài, xã sẽ đề nghị với các ngành, các cấp có phương án thu hồi đất, không để lãng phí tài nguyên, không để cho đất “chết”. Được biết mới đây, UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Cụm công nghiệp làng nghề Tiến Lộc (Hậu Lộc) với diện tích 6 ha (là đất ruộng bỏ hoang) để phát triển nghề rèn truyền thống, sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi và thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên vướng ở khâu giải phóng mặt bằng và bồi thường. Người dân cho rằng Nhà nước hỗ trợ bồi thường mức giá 100 nghìn đồng/m2 là thấp, nên họ không đồng ý. Nhưng nếu bồi thường cao hơn thì cũng không có quy định nào để áp dụng hỗ trợ thêm cho họ cả.

Ông Lê Văn Thiết, Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc cho biết: “Hiện nay, địa phương đang tập trung từng bước tháo gỡ khó khăn, giải quyết các tồn đọng, thúc đẩy hoạt động làng nghề phát triển. Tới đây, địa phương sẽ tổ chức bàn bạc, thỏa thuận với bà con để họ thấm nhuần chủ trương của tỉnh, thống nhất các phương án giải phóng mặt bằng và hỗ trợ bồi thường, vận dụng các chính sách để ưu tiên, hỗ trợ cho các hộ làng nghề. Xác định là khó nhưng địa phương vẫn phải quyết tâm làm”.

Ông Thiết cũng cho biết, xã sẽ tiếp tục phát triển nghề rèn, cơ khí truyền thống vốn có tại địa phương, giữ vững mũi nhọn trong lĩnh vực phát triển kinh tế, tạo bước đột phá mới bằng việc mở rộng sản xuất quy mô lớn hơn, vận động nhân dân thành lập các công ty, doanh nghiệp để hưởng lợi từ các dự án. Tiếp tục mở rộng diện tích làng nghề đã có ở làng Ngọ, quy hoạch các làng nghề ở làng Bùi và làng Sơn để tạo diện tích thu hút các hộ làm nghề tham gia dự án sản xuất tập trung, kích cầu cho phát triển sản xuất lớn và đảm bảo về môi trường. Vận động nhân dân đăng ký quỹ đất để thành lập các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực nghề truyền thống. Xây dựng khu chợ Sơn thành trung tâm thương mại bao gồm chợ, các ki-ốt tập trung, các cửa hàng, đại lý để thu hút giao thương. Khuyến khích mở rộng các loại hình dịch vụ, thương mại trên toàn xã, dọc các trục đường chính, trung tâm các làng. Đồng thời chú trọng xây dựng thương hiệu, quảng bá, giới thiệu các sản phẩm làng nghề truyền thống.

Ngọc Anh


Ngọc Anh


Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng.

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]