A- A+
(THO) - Thời gian qua, tình trạng vi phạm pháp luật ở lứa tuổi vị thành niên đang có chiều hướng gia tăng, trong số đó không ít trường hợp là học sinh phổ thông, làm dấy lên những lo lắng trong cộng đồng và dư luận xã hội.
Trong chương trình giáo dục ở các bậc học phổ thông, từ tiểu học đến THPT, những kiến thức cơ bản về pháp luật đã được đưa vào chương trình giảng dạy. Chẳng hạn, từ bậc tiểu học đến THCS, học sinh đã được làm quen với một số biển báo và những kiến thức cần thiết khi tham gia giao thông. Mặc dù vậy, do hạn chế về thời gian, cùng với đó là phương pháp truyền thụ của giáo viên chưa thực sự sinh động, hấp dẫn nên thường xảy ra tình trạng các em học trước, quên sau. Ở bậc học phổ thông, tâm sinh lý của học sinh đã có nhiều thay đổi, do muốn thể hiện và khẳng định mình “đã là người lớn” nên dễ phát sinh ở lứa tuổi này những hành động bột phát, nông nổi. Do đó, việc trang bị kiến thức hiểu biết pháp luật cho học sinh ở bậc học này là rất cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế công tác giáo dục pháp luật (GDPL) cho học sinh ở bậc THPT vẫn chưa mang lại nhiều kết quả như mong muốn. Nhiều kiến thức pháp luật thiết thực, gần gũi với cuộc sống đã được đưa vào chương trình môn giáo dục công dân lớp 12. Mặc dù vậy, trong suy nghĩ của không ít học sinh, môn Giáo dục công dân được xem là một môn học “phụ” nên các em không mấy quan tâm, mặn mà. Bên cạnh đó, những kiến thức về pháp luật thường khô khan, trừu tượng, do vậy cần những hình thức truyền đạt sinh động, linh hoạt để người học dễ tiếp thu. Thế nhưng vẫn còn những giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân lại cho rằng: Môn Giáo dục công dân không thi tốt nghiệp, không thi đại học nên không cần dành nhiều thời gian cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Do vậy, tình trạng thầy đọc, trò chép vẫn tồn tại. Do không “ngấm” được những kiến thức cần thiết, cơ bản về pháp luật, dẫn đến nhiều hành vi vi phạm của học sinh (nhất là ở những lớp cuối cấp của bậc học phổ thông) vẫn diễn ra. Đặc biệt là tình trạng học sinh vi phạm luật giao thông tương đối phổ biến. Trước các cổng trường vào thời điểm trước và sau mỗi buổi học, học sinh thường tụ tập đông, gây ách tắc giao thông, tình trạng học sinh đi xe đạp dàn hàng ba, hàng bốn hay đi xe gắn máy đến trường không có giấy phép lái xe, còn chở 2, chở 3, lạng lách, đánh võng, không đội mũ bảo hiểm... không phải là “chuyện hiếm thấy”; nhất là tình trạng học sinh bỏ học, la cà tụ tập quán xá, chơi bi-a ăn tiền, chơi game bạo lực... dẫn đến trộm cắp hay xích mích, đánh nhau ngày một nhiều. Có không ít học sinh phải bỏ dở chuyện học hành, thậm chí bị xử lý trước pháp luật bởi những hành vi vi phạm pháp luật. Tất cả đều bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật.
 
Để nâng cao hiệu quả công tác GDPL cho học sinh phổ thông, trước hết cần xác định rõ mục đích của công tác đặc biệt quan trọng này. Theo đó, GDPL cho học sinh trong nhà trường phổ thông phải xuất phát từ nhu cầu giáo dục toàn diện, giúp cho học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về pháp luật. GDPL cho học sinh không chỉ chú trọng trang bị những kiến thức về pháp luật mà cần quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dục ý thức và hành vi tự giác thực hiện pháp luật của một công dân. Thực hiện tốt vấn đề này, phương pháp GDPL cho học sinh cần phải phù hợp với lứa tuổi và nhận thức của học sinh từng bậc học, từng vùng, miền. Trong quá trình giáo dục, cần coi trọng việc vận dụng tổ chức hình thức dạy học linh hoạt theo hướng phù hợp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho học sinh bằng các hình thức sinh động như: kể chuyện pháp luật, xây dựng các tiểu phẩm, sân khấu hóa, xem hình ảnh trực quan, phim tư liệu, hỏi đáp... tác động tích cực tới nhận thức của học sinh một cách sâu sắc hơn.
 
Để thành người công dân tốt, góp ích cho xã hội, sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh nói chung, việc tiếp thu các kiến thức pháp luật nói riêng không chỉ chịu tác động từ quá trình giáo dục trong nhà trường mà còn bị ảnh hưởng từ gia đình, môi trường xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng... Vì vậy, GDPL cho học sinh nhất thiết phải có sự đồng thuận, thống nhất từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng xã hội, từ đó góp phần tích cực tới sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của mỗi học sinh.

Ý kiến bạn đọc

Gửi ý kiến của bạn

 
Thông tin thời tiết
Tỉ giá ngoại tệ
Thông tin giá vàng
Chứng khoán