A- A+
Đa phần người dân huyện Quan Sơn chỉ chẻ nan thanh thô để bán cho các tỉnh phía Bắc nên giá trị kinh tế không cao.

(THO) - Nứa, luồng đã khẳng định là cây xóa nghèo cho nhân dân các huyện miền núi tỉnh Thanh. Từ nhiều năm qua, một số huyện còn coi cây luồng là cây trồng chủ lực. Thế nhưng, việc phát triển rừng luồng, nứa ở tỉnh ta hiện nay đang tồn tại nhiều nghịch lý cần khắc phục.
Hiện, rừng luồng tỉnh Thanh đã phát triển thành cây hàng hóa theo quy hoạch tại 16 huyện trung du và miền núi của tỉnh, giải quyết việc làm và thu nhập cho hàng chục nghìn lao động. Về diện tích, tỉnh ta có hơn 71.000 ha luồng, chiếm khoảng 55% tổng diện tích rừng luồng cả nước. Riêng 5 huyện Quan Hóa, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Quan Sơn, Bá Thước đã có 62.939 ha, chiếm 88,6% diện tích rừng luồng toàn tỉnh. Trữ lượng luồng của tỉnh ta đạt khoảng trên 102,5 triệu cây. Từ khi có chính sách giao khoán đất đến tận hộ dân, người dân càng có điều kiện đầu tư thâm canh cây nguyên liệu họ tre này. Trong hơn 10 năm trở lại đây, thu nhập từ rừng luồng chiếm khoảng 50% tổng thu nhập của người dân miền núi, ở nhiều xã, con số đó từ 70 đến 80% tổng thu nhập. Bên cạnh đó, rừng nứa tự nhiên (tập trung chủ yếu tại các huyện Quan Sơn, Quan Hóa) với hàng nghìn héc-ta cũng có giá trị hàng hóa rất lớn.
 
Tiềm năng là vậy, nhưng việc phát triển loại cây trồng này ở nhiều nơi vẫn còn tồn tại các vấn đề chưa hợp lý. Ở nhiều xã vùng sâu khó khăn về giao thông, cây luồng cũng khó bán. Có mặt tại bến đò Vụng Cải thuộc làng Chun, xã Thiết Ống (huyện Bá Thước), chúng tôi chứng kiến cảnh tượng: các ghe chở một vài cây luồng đã được chặt thành 3 - 4 đoạn liên tục cập bến sang sông. Tìm hiểu được biết, luồng trồng của các thôn bên kia sông Mã thường xuyên ế ẩm hoặc bị ép giá. Chủ rừng muốn bán luồng phải thuê ghe chở sang bên này sông - phía trung tâm xã mới bán được. Trừ mọi chi phí và tiền thuê ghe chở, mỗi cây luồng loại 2, loại 3 ở đây cũng chỉ còn khoảng 10.000 đồng/cây (sau 2 - 3 năm chăm sóc vun trồng). Tương tự, các thôn bên kia sông Âm của xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, giá trị của mỗi cây luồng có khi chỉ bằng 1/2 so với ở các thôn bên này sông. Một số xã vùng sâu của huyện Quan Hóa như: Trung Thành, Trung Sơn, Thành Sơn... luồng rất tốt, cây to nhưng giá rẻ, lại khó bán do khó khăn trong vận chuyển. Đã sản xuất ra, người trồng luồng phải tìm mọi cách để tiêu thụ. Từ lâu, nếu muốn bán luồng, người dân bản Phai, xã Trung Thành đều phải tổ chức khuân vác từng cây luồng từ rừng ra triền sông Mã, sau đó đóng bè vận chuyển bằng đường sông khoảng 25 km ra thị trấn Co Lương (Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) mới bán được. Người trồng luồng không chủ động được đầu ra nên các tư thương tha hồ thao túng, ép giá. Ông Phạm Bá Ngọc, trưởng bản Phai, cho biết: “Bản ta mỗi năm thu hoạch gần 40.000 cây luồng. Luồng phao loại to nhất cũng chỉ bán được 18.000 đồng/cây. Luồng loại bé cũng chỉ có giá từ 3.000 đến 5.000 đồng/cây, nên trung bình mỗi cây luồng ở đây có giá khoảng 9.000 đồng. Nếu so với giá mía trên thị trấn, thì 1 cây luồng chưa đổi được một cây mía”.
 
Một trong những giải pháp khắc phục điều bất hợp lý trên là phải thành lập các cơ sở chế biến luồng, nứa ngay tại các địa phương. Điều này ai cũng biết, nhưng vì nhiều lý do nên các cơ sở này hiện còn quá ít. Hầu hết các cơ sở hoạt động ở quy mô nhỏ lẻ và manh mún, với các sản phẩm gia dụng như: đũa, tăm, mành, chiếu... và đa phần là gây ô nhiễm môi trường vì hệ thống xử lý nước thải chưa được quan tâm. Các cơ sở chủ yếu dùng lao động thủ công, công nghệ thấp nên hiệu quả không cao, lãng phí nguyên liệu. Nhiều phần của cây luồng, nứa bị loại bỏ dẫn đến sinh khối sử dụng thấp, phần rác thải nhiều. Tính đến nay, ngoài cơ sở chế biến sản phẩm xuất khẩu từ luồng nứa tại huyện Triệu Sơn và các cơ sở sản xuất đũa ăn một lần, tập trung ở huyện Quan Hóa đã phát huy được hiệu quả, thì nhiều cơ sở khác hoạt động cầm chừng và thị trường tiêu thị sản phẩm chủ yếu vẫn trong nước, giá trị thấp. Đây chính là một nghịch lý thể hiện sự mất cân đối giữa tiềm năng với việc trồng, khai thác và chế biến cây luồng ở các địa phương trong tỉnh nhiều năm qua.
 
Xót xa hơn, sản phẩm tre luồng Thanh Hóa hiện đang lại mang “thương hiệu” hay địa chỉ sản xuất tại các tỉnh, thành như Hà Nam, Hà Nội, Hải Phòng... vì các xưởng chế biến của ta phần nhiều mới chỉ dừng ở khâu sơ chế. Tại huyện Quan Hóa, rất nhiều cơ sở chỉ sản xuất đũa thô, sau đó nhập cho các cơ sở ngoài tỉnh tinh chế, sấy, đóng hộp để đưa ra thị trường, và tất nhiên nhãn mác, thương hiệu là của họ. Điều này mang đến hệ lụy: giá trị tre, luồng, nứa của Thanh Hóa không cao, phần lãi cao lại thuộc vào các khâu chế biến cuối cùng và đưa ra thị trường. Ngay việc tiêu thụ nứa luồng trong tỉnh cũng bất hợp lý trong việc phân bổ lợi nhuận giữa các khâu. Người trồng luồng mất 2 - 3 năm chăm sóc mới cho thu hoạch một cây luồng loại 1, giá trung bình tại các huyện miền núi khoảng 20.000 đồng. Song, khâu vận chuyển về các huyện đồng bằng chỉ trong một buổi lại có thu nhập gấp nhiều lần. Tìm hiểu tại huyện Hoằng Hóa, luồng loại 1 ở nhiều nơi có thể bán được 100.000 đồng/cây (gấp 5 lần tại nơi cung cấp). Điều đó nói lên một nghịch lý khiến nhiều người trồng luồng vẫn cứ nghèo, và việc chặt bán luồng chưa đủ tuổi kiểu “ăn xổi” vẫn diễn ra.
Xứng danh đất luồng của Việt Nam là vậy, nhưng chất lượng nứa, luồng Thanh Hóa lại được coi là kém so với nhiều tỉnh. Cách đây không lâu, khi trao đổi với một chủ cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ dùng nguyên liệu tre - luồng - nứa tại xã Hoằng Thịnh (Hoằng Hóa), ông cho biết: “Ở nơi có sản lượng luồng nứa lớn nhất nước nhưng nguyên liệu phục vụ đan các mặt hàng tinh xảo lại phải mua trong tận miền Tây Nghệ An và các tỉnh khác”. Tìm hiểu nguyên nhân, chúng tôi được biết, luồng nứa Thanh Hóa thường khai thác non nên thoái hóa, nan đan không đủ độ dẻo cần thiết. Theo quy định, cây luồng phải hơn 2 năm mới thu hoạch nhưng vì nhiều nguyên nhân hoặc vì lợi ích trước mắt nên các chủ rừng thường khai thác luồng non. Không những cây luồng đó có chất lượng kém mà những cây măng sau khi được sinh ra từ gốc luồng non bị chặt cũng còi cọc khiến bụi luồng ngày càng thoái hóa, thân luồng các đời sau càng nhỏ dần. Trên thực tế, đã có nhiều dự án phục tráng rừng luồng và tuyên truyền cho người dân tác hại của việc chặt luồng non, song hiệu quả chưa cao. Tại sao ở một số tỉnh khác, họ thực hiện được việc phải khai thác luồng theo đúng độ tuổi mà ở ta lại khó thế? Câu trả lời thuộc về các cấp chính quyền và ngành chức năng?

Ý kiến bạn đọc

Gửi ý kiến của bạn

 
Thông tin thời tiết
Tỉ giá ngoại tệ
Thông tin giá vàng
Chứng khoán