A- A+
(THO) - Ngày 10-12-1982, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước Luật Biển 1982), viết tắt tiếng Anh là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia (trong đó có Việt Nam) ký tại Montego Bay (Jamaica).
Đây được coi là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Công ước bao gồm các điều khoản mang tính điều ước và pháp điển hóa các quy định mang tính tập quán. Đây là văn bản pháp lý đa phương đồ sộ gồm 320 điều và 9 phụ lục với hơn 1.000 quy phạm pháp luật.

Công ước Luật Biển 1982 có một số nội dung quan trọng sau:

1. Đường cơ sở

Đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải của một quốc gia là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của quốc gia đó.

Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

2. Lãnh hải

Chủ quyền của một quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình (hoặc ra ngoài vùng nước quần đảo đối với quốc gia quần đảo) đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời, đáy và lòng đất của lãnh hải. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý (1 hải lý = 1,852 km) kể từ đường cơ sở.

3. Vùng tiếp giáp

Vùng tiếp giáp với lãnh hải của mình gọi là vùng tiếp giáp với chiều rộng tối đa 24 hải lý kể từ đường cơ sở. Quốc gia ven biển thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa, trừng trị những vi phạm đối với các quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

4. Nội thủy

Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia.

5. Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, rộng tối đa 200 hải lý kể từ đường cơ sở. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và những mục đích khác hợp pháp tại vùng này.

6. Thềm lục địa

Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài  rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.

Rìa lục địa là phần kéo dài ngập dưới nước của lục địa của quốc gia ven biển, cấu thành bởi đáy biển tương ứng với thềm, dốc và bờ cũng như lòng đất dưới đáy của chúng. Rìa lục địa không bao gồm các đáy của đại dương ở độ sâu lớn, với các dải núi đại dương của chúng, cũng không bao gồm lòng đất dưới đáy của chúng.

Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa của mình trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia đó.

Trong những điều kiện cụ thể, thềm lục địa có thể kéo dài không quá 350 hải lý kể từ đường cơ sở. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên trong thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.

7. Biển cả (vùng biển quốc tế)

Biển cả là vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia hay vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo.

Tất cả các quốc gia (có biển hay không có biển) đều có quyền tự do hàng hải, hàng không, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm, đánh bắt hải sản, nghiên cứu khoa học và các hoạt động hợp pháp khác trên biển cả. Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện quyền tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong vùng.

 

Luật gia HÀ SĨ THẮNG
(Hội Luật gia tỉnh Thanh Hóa)

In bài viết

Gửi ý kiến của bạn

Gửi ý kiến của bạn

 
Liên kết hữu ích