(Baothanhhoa.vn) - Tháng bảy, khi nhiều người nghĩ nên mua gì, cúng gì để báo hiếu, thì tôi lại lặng lẽ tìm trong máy tính của mình tản văn “Bông hồng mùa Vu lan” mà Lương Đình Khoa gửi cho tôi hồi còn làm công việc “bếp núc” ở một tòa soạn báo để đọc.

Tin liên quan

Đọc nhiều

Nén tâm hương muộn màng mùa Vu lan

Tháng bảy, khi nhiều người nghĩ nên mua gì, cúng gì để báo hiếu, thì tôi lại lặng lẽ tìm trong máy tính của mình tản văn “Bông hồng mùa Vu lan” mà Lương Đình Khoa gửi cho tôi hồi còn làm công việc “bếp núc” ở một tòa soạn báo để đọc.

Trong tản văn ấy có những dòng chữ khá mộc mạc: “Mình thích ngày thứ bảy trong tuần, không chỉ vì chỉ phải đi làm nửa buổi, được nghỉ ngơi, mà vì thứ bảy sẽ về thăm quê... Sáng thứ bảy nào mẹ cũng gọi điện hỏi có về không? Về thăm nhà, bên gia đình bao giờ cũng thấy bình yên và ấm cúng. Dù cuộc sống thường ngày của bố mẹ vẫn diễn ra như trước, bận rộn nhưng nó có ý nghĩa hơn mỗi lần mình về thăm”.

Đọc rồi nhìn vào tấm ảnh bố chụp chung lần cuối cùng với mình, nước mắt lại lem nhem. Mình đa cảm vẫn thường khóc vì những chuyện đâu đâu, đôi khi chỉ là một bi cảnh trên sân khấu. Nhưng khóc vì những đấng sinh thành thì hình như mới lần thứ ba. Hai lần trước là khi bố, mẹ vĩnh viễn ra đi. Vô tâm quá chăng, hay sự chiều chuộng, chở che của bố, mẹ đã làm mình thành đứa con chỉ biết hưởng thụ mà quên sẻ chia?

Về thăm quê! Cái háo hức của bạn văn Lương Đình Khoa cũng là nỗi thẳm buồn của chính mình. Quê nhà vẫn đó, nhưng nhà cũ bán từ lâu, bố, mẹ đã thành người thiên cổ tự hồi nào.

Nhớ ngày rời quê nghèo lên phố thị, mẹ đã khóc, khóc thật nhiều bởi lo đứa con thơ sẽ ra sao khi rời tổ ấm. Môi trường sinh viên lắm ước mơ nhưng cũng nhiều cạm bẫy. Qua khung kính chiếc xe khách rời phố huyện, tôi thấy nước mắt mẹ lăn dài. Dáng tảo tần của mẹ càng mỏng manh trong chiều thu se lạnh. Hồn nhiên quá, lúc đó tôi không biết khóc vì sự chia tay là gì. Nhưng khi viết những dòng này tôi đã khóc, những giọt nước mắt cứ trào ra, ướt cả bàn phím máy tính.

Mẹ là một bà giáo làng nhưng dạy giỏi vào hàng tỉnh. Kỳ thi giáo viên giỏi nào mẹ cũng trong tốp đầu. Thế mà mẹ đã phải chia tay cái nghề “gõ đầu trẻ” thanh cao để xin được về hưu sớm, bươn chải kiếm thêm tiền nuôi con ở nơi phố thị. Hành trang của mẹ không còn là giáo án, phấn trắng và một tâm hồn sư phạm, thay vào đó là đôi sọt to với thập cẩm đồng đăng. Đôi bánh xe của mẹ lăn khắp ngõ quê nhặt từng đồng bạc lẻ, gom góp cuối tháng gửi ra Hà Nội những mong con trai mình học hành nên người.

Tuổi trẻ và sự bồng bột nổi nênh lần đầu được thỏa chí trên đất Hà thành, tôi cứ thế, vô tư ăn, thoải mái chơi, đâu biết mẹ ở quê nhà lam lũ ra sao. Đâu biết có lần mệt quá mẹ đã không làm chủ được chiếc xe với đôi sọt cuộc đời và ngã xuống sông. Trời thương mẹ chưa bắt, nhưng căn bệnh tim sau đó và vô số nhọc nhằn đã cướp mẹ đi khi tôi còn dở dang nơi giảng đường đại học. Bố là người cứng rắn, chưa bao giờ thấy bố khóc, nhưng lúc đó tôi thấy bố khóc nhiều. Khóc như con trẻ. Tôi biết bố yêu mẹ bao nhiêu, giờ lại càng thương con thêm bấy nhiêu. Đồng lương ít ỏi của bố giờ lại thêm một lần thử sức. Cảnh gà trống nuôi con bố không muốn cũng phải làm. Đoàn tàu hai đầu giờ chỉ còn một, tôi muốn bỏ học ra đất mỏ làm “thổ phỉ” đội than sẻ chia nhọc nhằn của bố, nhưng bố vẫn nhất quyết bắt tôi phải học. Cái làng Chiêm Ba quê tôi nghèo lắm, đứa trẻ sinh ra đã phải găm chặt cuộc đời với ốc, cua, rổ, rá, vì vậy bố quyết góp phần thay đổi vận.

Ra trường, lâu lâu mới về thăm bố một lần, nhiều khi ỷ vào công nghệ thông tin, quên cả việc bố thèm nhìn mặt con, sờ vào đôi tay ngày xưa từng cầm nắn từng nét chữ.

Và bệnh tật đã cướp bố đi. Nhớ lần tôi về đến nhà thì mẹ đã trút hơi thở cuối cùng, dân làng chỉ chờ tôi về để đưa mẹ nhập quan. Còn bố cũng chẳng nói được câu gì. Bố ra đi trên tay tôi sau cơn co thắt khí quản đầy đau đớn, khiến phút giây ấy không thể quên, không bao giờ quên.

Bố và mẹ thành người thiên cổ khi con còn quá dại khờ. Cái tuổi còn phải dựa vào sự gân guốc và kinh nghiệm của phụ mẫu để nương nhờ, định hướng, thì bố, mẹ đã lặng lẽ về chốn cửu tuyền.

Thêm một mùa Vu lan nữa, trên đường người ta bày bán la liệt trái cây, hoa thơm và vàng mã. Tục là thế, tháng bảy âm lịch đốt cho người đã khuất, cầu nguyện cho linh hồn được phiêu diêu nơi chín suối. Tấm lòng thành thật quý, trả nghĩa là vậy, nhưng liệu ích gì khi điều thành thực nhất, cần nhất thì nhiều người sống vẫn còn mắc nợ người đã khuất.

Giờ thì con đã lớn, con thấy mình vẫn chưa đủ khôn, nhưng đã biết nghĩ hơn. Con thầm mong có điều giá như, dẫu biết rằng đó chỉ là mơ ước.

Vâng, con mơ ước vẫn được sà vào lòng mẹ để được chở che, được trèo lên lưng bố đi khắp các ngõ làng như ngày nào. Mơ ước được sống trong không gian ấm áp của “Bông hồng mùa Vu lan” mà Lương Đình Khoa đã viết.

Thắp nén tâm hương tháng bảy ước cầu điều thành thực: Xin cho con được làm điều lẽ ra phải thực hiện từ lâu lắm rồi.


Tản văn của Lam Vũ


Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng.

Địa phương

Xem thêm TP.Thanh Hóa

Thời tiết

Chia sẻ thông tin với bạn bè!
Tắt [X]